
Giuse Trần Văn Tuấn, Sinh năm 1824 tại Nam Ðiền, Nam Ðịnh,
Giáo dân, bị xử trảm ngày 7/01/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được
phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 7/06.
Dấu hiệu Đức Cậy.
Sự lạc quan trước những thử thách, đó là điều Thiên Chúa hằng
mong đợi nơi mỗi người tín hữu. Chúng ta có thể gọi sự lạc quan ấy là Đức Cậy,
vì dựa vào sức mạnh của Chúa và vững tin vào ngày mai tươi sáng. Nếu đã tin vào
Đức Kitô, đấng đã chiến thắng các quyền lực sự ác, chúng ta thấy rằng không có
gì có thể làm lay chuyển công trình Người thực hiện trên thế giới này. Đối với
những thử thách lớn lao hơn như cuộc tử đạo, như những hình khổ, mà chỉ cần một
hành vi chối đạo cũng đủ để thoát khỏ thì thái độ lạc quan kiên quyết của người
tín hữu quả là một cuộc hiển dương Đức Cậy, như trường hợp Thánh Giuse Tuấn.
Sau một năm rưỡi đày cực khổ, các quan chỉ yêu cầu vị chứng
nhân bước qua Thánh Giá để được tha về. Nhưng chẳng những người tôi tớ Chúa
không tuân lệnh quan, lại còn quì gối trước Ảnh Chuộc Tội mắt hướng về trời cao
mà cầu nguyện lớn tiếng rằng : "Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ trước tình
yêu bao la và lòng thương xót hải hà của Chúa. Chúa là sức mạnh đỡ nâng
con".
Người nông dân hiền lành.
Giuse Trần Văn Tuấn chào đời năm 1824 tại làng Nam Điền, một
họ đạo xứ Phú Nhai, trong mái gia đình sinh sống nghề ruộng nhiều đời trên vùng
đồng bằng sông Hồng thuộc tỉnh Nam Định (nay là Hà Nam Ninh). Cũng như hàng
ngàn người nông dân Việt Nam, niềm vui của anh là con trâu, luống cày, để thu
hoạch những bông lúa nặng trĩu do những giọt mồ hôi và công sức của mình.
Cùng với những giáo hữu đồng cảnh ngộ, cuộc đời anh Giuse Tuấn
bỗng nổi cơn sóng gió vì những chiếu chỉ cấm đạo của nhà vua. Cuộc bách hại vào
giai đoạn cao điểm này đã ảnh hưởng đến các phần tử nhỏ bé tầm thường nhất
trong Giáo Hội Việt Nam. Năm 1860, anh tuấn bị bắt vào năm 36 tuổi, và bị giải
tới phủ Xuân Trường cùng với một số giáo hữu khác. Về sau, anh lại bị phân sáp
vào làng An Bái, Thuộc huyện Thụy Anh.
Máu đào minh chứng
Từ khi về làng An Bái, anh Giuse Tuấn bị giam trong ngục chật
hẹp, cổ mang gông, chân mang cùm xiềng xích. Nhưng người chiến sĩ đức tin vẫn
kiên trì chịu đựng trong nhẫn nại và vui vẻ. Theo chiếu chỉ phân sáp tháng
08-1861, quân lính nung đỏ thanh sắt, và khắc vào má của anh một bên chữ
"Tả Đạo", một bên là nguyên quán làng xã. Sau những ngày tháng tù tội
cơ cực, sức khỏe anh Tuấn suy giảm rất nhiều, các quan tưởng anh sẽ nản chí bỏ
cuộc, nên điều tra và yêu cầu anh bước qua Thánh Giá. Quan còn hứa ban tặng tiền
bạc sau khi trả tự do cho anh.
Nhưng các quan đã thất bại chua cay, người nông dân tầm thường
đó không dễ bị lung lạc thối chí. Ngược lại, anh còn thừa trung tín và can đảm
biểu lộ niềm tin của mình. Vì tin vào Đấng Sáng Tạo yêu thương vô biên, và tin
vào đấng cứu thế, nguồn trợ lực tâm hồn, anh Giuse Tuấn Thành kính trước ảnh
Chuộc tội nói lên lời cảm tạ Thiên Chúa, Đấng mà chính anh đang cảm nghiệm được
sự nâng đỡ của Ngài. Và anh đã phải trả giá cho niềm tin đó: Quan đã kết án tử
hình người chiến sĩ Đức Kitô làng Nam Điền.
Ngày 07.06.1862, trên đường tới nơi xử trảm, anh Giuse Tuấn
bình thản đi sau đám quân lính, vừa đi vừa sốt sắng đọc kinh Cầu Các Thánh. Tới
nơi, lý hình đã vung gươm chém đầu vị chứng nhân, đang khi anh qùy gối, miệng vẫn
liên tục kêu tên cực trọng Chúa Giesu. Người nông dân chất phác hiền hòa nhưng
đạo đức, gan dạ, đã dùng chính mình thay vì ngôn từ, để làm chứng cho Đức Kitô,
nguồn chân lý vĩnh cửu bất diệt. Hai năm sau, thi hài vị tử đạo được các giáo hữu
cải táng và long trọng rước về chôn cất tại nhà thờ họ Nam Điền, quê quán của
ngài.
Ngày 29.04.1951 cùng với 24 vị tử đạo khác tại Việt Nam, người
nông dân nghèo thánh thiện, Giuse Trần Văn Tuấn, đã được Đức Piô XII suy tôn
lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng
Hiển thánh.
Ngày nay chúng ta không có hoàn cảnh như các ngài ở thế kỷ
trước, nhưng với những khó khăn thử thách vẫn thường xảy đến, chớ gì chúng ta vẫn
noi gương Đức Cậy của thánh Giuse Tuấn để mãi mãi ca tụng Thiên Chúa: "Lạy
Chúa ! con hết lòng cảm tạ trước tình yêu bao la và lòng thương xót hải hà của
Chúa. Chúa là sức mạnh nâng đỡ con".
Nguồn từ tu viện Đa Minh
Trường thi tử Đạo.
Năm Giáp Thân (1824) sinh Trần Văn Tuấn
Làng Nam Ðịnh phấn chấn nghề nông
Luống cầy thu hoạch lúa bông
Ca vang tiếng hát, cánh đồng phì nhiêu
Nắng gay gắt, sớm chiều vất vả
Dưới trời mưa tầm tã ngày đêm
Vững tin có Chúa ơn trên
Ðấng ban mọi sự, vững bền niềm tin
Ðời anh Tuấn hướng nhìn vui vẻ
Thì bỗng dưng phân rẽ nổi cơn
Cuộc bách hại gây căm hờn
Tầm thường nhỏ bé, giản đơn phiền hà
Như anh Tuấn cũng đà bị bắt
Cùng giáo dân quen mặt với nhau
Anh Tuấn phân tán đi mau
Về làng An Bái, rồi sau nhốt tù
Nơi giam giữ là khu chật hẹp
Cổ mang gông, kìm kẹp đôi chân
Mặt anh khắc tự tím bầm
Tháng ngày cơ cực, có phần yếu suy
Quan cứ tưởng anh thì bỏ cuộc
Nhưng ông lầm không buộc nổi anh
Kiên cường Thiên Chúa vinh danh
Chứng nhân của Chúa, chân thành xin vâng
Trên đường tới phó dâng Cha Cả
Anh Giuse thong thả nguyện cầu
Lý hình gươm giáo sợ đâu
Vung gươm đã chém, bay đầu chứng nhân
Phúc tử đạo mùa xuân Nhâm Tuất (1862)
Người chứng nhân đẹp nhất Thành Nam
Tân Mão (1951) Sắc chỉ Giáo Hoàng (Piô XII)
Suy tôn Chân Phước vẽ vang thế trần
Thi hài được chôn gần nơi xử
Hai năm sau giáo xứ rước về
Nam Ðịnh chôn cất chốn quê
Linh đình trọng thể, trọn bề kính tôn
Lời bất hủ: Quan bắt chà đạp lên Thánh giá, thánh nhân đã quỳ
gối trước ảnh Chuộc Tội, mắt ngước lên trời cao và cầu nguyện lớn tiếng rằng:
"Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ trước tình yêu bao la và lòng thương xót hải
hà của Chúa. Chúa là sức mạnh đỡ nâng con".
No comments:
Post a Comment