
Matthêu Ðậu (Matthaeus Alonso Leciniana), Sinh năm 1702 tại
Nava del Rey, Tây Ban Nha, Linh Mục dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, địa
phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 22/01/1745 tại Thăng Long dưới đời chúa
trịnh Doanh, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào
ngày 22/01.
Các lệnh cấm đạo năm 1750, 1754, và 1765
Cuối năm 1748, Trịnh Doanh đi thăm các trại lính thấy khẩu đại
bác có chữ Âu Châu muốn biết xem là chữ gì liền ra lệnh tìm người Âu Châu. Cha
Paleceuk Dòng Tên được đưa đến để giải thích các chữ viết, đồng thời khuyến
khích chúa Trịnh tin dùng người Âu Châu làm cố vấn. Ngay lúc đó Trịnh Doanh ra
lệnh phóng thích 7 người Công Giáo đang bị giam giữ ở Kinh Ðô và xin Cha
Paleceuk tìm các chuyên viên toán học và thiên văn. Bề trên Dòng Tên ở Macao
sai Cha Simonelli và 6 vị thừa sai với đầy đử dụng cụ thiên văn và toán học đến.
Trong thời gian này giáo dân bắt đầu tổ chức lễ lạy công khai, nhiều quan trở lại
đạo và lương dân thân thiện với Công Giáo như trước.
Nhưng không biết vì lẽ gì Trịnh Doanh lại đổi ý, ngày
3-7-1750 lập lại các lệnh cấm đạo cũ. Năm 1751 khi đòan thừa sai từ Macao đến để
làm việc theo lời yêu cầu đã bị từ chối không cho phép xuống đất. Sau cha Dòng
Tên đã lẻn xuống được, còn cha trưởng đoàn phải trở về Macao.
Ngày 26-10-1754, Trịnh Doanh công bố một lệnh cấm đạo mới. Nội
dung như sau: "Hội đồng các quan truyền lệnh cho các huyện như sau: Ðạo
'Hoa Lang' lầm lạc nghịch lại lý trí, mê hoặc lòng dân và còn truyền bá lan rộng
đạo lý sai lầm. Các năm trước hội đồng đã gửi các sắc lệnh ngăn cấm để chặn sự
xâm nhập của đạo này, nhưng vẫn còn có người tiếp tục làm hư hại người khác. Vì
vậy quan trấn các phủ huyện phải bí mật điều tra. Nếu bắt được đạo trưởng thì
phải giải họ về kinh, các tín hữu thì phải trừng phạt, hoặc lưu đầy, hoặc tạp dịch
trong các chuồng thú vật, hoặc đánh đòn. Nếu các quan chểnh mảng nhiệm vụ này sẽ
bị trừng phát, ai nhiệt thành sẽ được trọng thưởng".
Lệnh trên được bí mật gửi cho các quan, nhưng khi các vị thừa
sai biết được đã ra lệnh ngưng các buổi hội họp, sửa đổi nhà thờ thành nhà ở,
treo cờ, dựng cây nêu... Còn các vị thừa sai thì tạm thời trốn tránh. Kết quả
Cha Ðóa bị bắt với 4 người nhà. Cha Cai và 4 người nhà khác cũng bị bắt tại Bố
Chính, các chủng sinh tại Thanh Hóa một số bị bắt. Ðịa phận Ðông Ký có một thầy
giảng bị bắt tại Xứ Bắc và Cha Alonso dòng Ða Minh cũng bị bắt.
Ngày 15-9-1765, Trịnh Doanh kết án một nhà sư và ra lệnh giải
tán một số chùa chiền, nhưng vì sợ dân chúng phản loạn cho là bắt đạo Phật nên
Trịnh Doanh ra lệnh cấm luôn cả đạo Công Giáo. Các vị thừa sai chỉ nhắc đến những
vụ bắt bớ do quan lại muốn làm tiền, không có ghi lại sắc lệnh. Kết quả là Cha
Orta người Ý thuộc Dòng Tên và Cha Ðóa Dòng Ða Minh bị bắt tại Thanh Hóa. Ngoài
ra Cha Gioan Hiên và nhiều cha khác đi làm lễ Phục Sinh cũng bị bắt. Khi Trịnh
Doanh chết cuộc bắt bớ mới tạm yên.
Linh Mục Mateo Alonso Liciana Ðậu,
Cha Mateo Liciana sinh ngày 26-11-1702 tại Nave del Rey và
nhập tu viện Ða Minh S. Croce tại Segovia. Năm 1723, ngài khấn trọn đời rồi tiếp
tục học thần học và tu đức. Về tuổi trẻ của ngài, chúng ta không được biết gì
nhiều. Năm 1729, tỉnh dòng Phi Luật Tân tuyển mộ các vị thừa sai để làm việc tại
đây. Cha Mateo xin ghi tên, nhưng sau lại rút lui. Ngài cảm thấy xấu hổ nên xin
làm linh mục và phục vụ tại một tỉnh dòng khác. Một cơn bệnh làm cho ngài suy
nghĩ nhiều đến việc từ chối đi truyền giáo. Dịp may lại đến để cha có thể chuộc
lại lỗi cũ, ngày 4-7-1729 cha và hai thầy khác nhập đoàn 27 người thừa sai đi
Phi Luật Tân.
Ðoàn truyền giáo tới Manila tháng 10-2730. Cha Mateo được chỉ
định đi Bắc Kỳ. Ngày 13-2-1731, cha khởi hành đi với hai tu sĩ khác bằng tầu
buôn Hòa Lan. Ngày 18-1-1732, cha tới Bắc Kỳ và được đưa tới nhà Ðức Chúa Trời ở
Trung Linh để học tiếng Việt trong năm tháng. Tại đây cha được đặt tên là Ðậu.
Trong thời kỳ này giáo dân tại đây đang bị bách hại do sư Tình cầm đầu. Cha Ðậu
phải trốn tránh nay đây mai đó, 7 tháng lưu lạc.
Từ năm 1733 cha được chỉ định coi Nam Thượng, rồi thêm ba
huyện là Giao Thủy, Vụ Thiên và Chấn Ðinh, sau đó lại thêm Phú Thái và Nam
Chân. Tại đây đang có loạn nổi lên làm cuộc rao giảng đạo phải lén lút, khi đi
bộ, khi đi thuyền như các dân chài. Hồi ấy các cha thường đi làm phúc các họ một
năm hai lần. Dù đang cơn bắt bớ, Cha Ðậu rất nhiệt thành với việc tông đồ. Người
chứng thứ mười hai đã làm chứng về lòng nhiệt thành bất kể gian nguy của ngài rằng
có một lần họ khuyên ngài đừng đến một làng nguy hiểm thì ngài trách mắng và
khuyên bảo họ như sau: "Nếu vì sợ bị bắt mà không đi làm phúc cho bổn đạo
thì cha đến xứ này để làm gì? Nếu chúng con sợ vất vả thì còn làm được cái gì nữa?
Nếu sợ chết nữa thì theo cha làm chi. Cha đi một mình vậy".
Suốt trong 10 năm làm việc tông đồ cha trốn thoát khỏi tay kẻ
thù đến bốn năm lần. Một lần khác, hay tin ở làng Kẻ Bái có một người chối đạo,
tên là Chinh Nam, và trở thành kẻ thù của người Công Giáo, Cha Ðậu mạnh mẽ đến
gặp ông ta và dùng lời lẽ khôn ngoan đã khuyên được ông ta trở về và làm cho giáo
dân ở đó được an tâm. Ngoài ra tại Bắc Kỳ lúc đó có nhiều thiên tai và dịch tễ,
Cha Ðậu tỏ ra nhiệt thành bác ái không sợ bị bệnh tật nữa. Người chứng thứ 34
nói về lòng bác ái của cha như sau: "Một năm tại làng tôi có dịch tễ, Cha
Ðậu tới cả ngày cả đêm không kể thời tiết xấu. Dù bị bệnh, ngài phó thác nơi
Chúa, vẫn tiếp tục đi săn sóc các bệnh nhân khác. Cha Ðậu còn sốt sắng khuyên bảo
những người rượu chè và cờ bạc. Ngài có tài khuyến dụ họ bỏ được các thói xấu
đó".
Tóm lại, trong 10 năm cha vừa trau dồi nhân đức bằng việc cầu
nguyện hãm mình, vừa sốt sắng làm việc tông đồ và xả thân cứu giúp người nghèo
khó.
Ngày 29-11-1743, một giáo dân tên là Ðào Tất Ðạt đã đi tố
giác nơi cha ở. Sáng sớm đang khi Cha Ðậu làm lễ thì lính nhà quan ùa đến Lục
Thủy tìm bắt ngài. Cha Ðậu vội cầm mình thánh trốn vào trong thì bị tên lính
túm tóc đánh vào hông làm ngài té xuống đất. Tên này còn đá lên đầu cha làm máu
chảy ra. Mấy tên lính khác lột áo ngài và đem chia nhau. Ðồng thời họ cũng bắt
luôn Thầy Ignatiô Nguyễn Văn Quí, còn cha phó Giuse Ðinh thì chạy trốn kịp, và
hai thầy khác là Sien và Dan cũng cởi trói trốn ra được.
Cha Ðậu và Thầy Ignatiô Quí bị trói và dẫn đến nhà quan phủ
Lê Phong tại Vị Hoàng. Tới nơi vào nửa đêm, quan phủ chỉ hỏi tên tuổi rồi cho
lính xích chân tay và cấm không cho ai được đến gần. Ít ngày sau, quan phủ cho
giáo dân hay là sẽ thả cha nếu họ chịu nộp một số tiền lớn. Giáo dân gom được
90 lạng bạc giao cho quan. Quan vui vẻ nhận nhưng để mặc giáo dân chờ đợi trong
thất vọng. Có một đêm, một người lính Công Giáo đến đòi bẻ xích để cha trốn đi,
nhưng cha đã không chấp nhận một sự tự do như thế vì nguy hiểm cho người lính.
Sau cùng họ giải cha đi Hà Nội, cha cứ tưởng giờ tử đạo đã đến nên dọn mình suốt
cả đêm. Cha bị dẫn đi trong thành phố như những tên tội phạm, trẻ con và dân
chúng hai bên đường chế diễu.
Ngày 18-12-1743, cha được giao cho quan Ðề Lĩnh, con rể của
chúa Trịnh, đang trị nhậm Kẻ Chợ. Ban đêm cả hai vợ chồng tới tra vấn và xem
cho biết mặt mũi người Âu Châu ra sao. Khi quan hỏi tên tuổi, thời gian cha ở Bắc
Việt, đến đây làm gì và giảng dậy những gì, Cha Ðậu đã thưa lại tên ngài là
Mateo, đến Bắc Việt được 12 năm và là thầy cả của đạo thánh Ðức Chúa Trời, đạo
chân thật, đến xứ này để giảng về Chúa chân thật và về ba bậc cha, đó là Cha Trời
Ðất, cha của quốc gia, và cha gia đình. Sau đó ngài đọc cho quan nghe 10 điều
răn.
Quan Ðề Lĩnh lại hỏi tại sao có lệnh vua quan cấm đạo mà còn
đến? Cha Ðậu trả lời là chính vì có lệnh cấm mới không dám xuất hiện công khai,
phải lén lút gặp gỡ giáo dân ban đêm để có thể giảng đạo và khuyên nhủ người ta
theo con đường thiện hảo. Dân chúng nghe tin có người Âu Châu trong tù cũng tuốn
đến xem. Dầu vậy cha vẫn bị đối xử như một người trộm cướp có sức mạnh chịu mọi
sự cực hình tra tấn. Bốn tháng trời bị giam giữ trong nhà tù của quan, Cha Ðậu
không ngừng rao giảng đạo cho những người đến thăm. Thấy cha giảng vất vả, lính
canh tháo gông để cha dễ dàng nói về đạo hơn.
Cha bị tra vấn cả thảy 7 lần, mãi tới ngày 3-4-1744 cha mới
được đưa ra tòa lần đầu tiên cùng với các đồ đạo như thánh giá, ảnh đạo và sách
nguyện mà chúng đã tịch thu. Một trong ba quan án trỏ vào cây thánh giá hỏi
ngài: "Cái gì đây?"
Cha Ðậu trả lời: "Ðó là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên
Chúa, đã xuống trần làm người và chịu khổ để đền tội cho nhân loại vì tổ phụ
con người đã bất tuân lệnh Chúa Trời đất, và vì không ai chuộc được lỗi tầy trời
ấy nên Con Chúa Trời đã làm người chịu chết chuộc tội và có thể làm cho con người
được lên trời".
Sau đó quan còn hỏi những bức ảnh Ðức Mẹ, Thánh Giuse,
v.v... và nghe đọc sách nguyện. Quan lại hỏi về luật trong đạo. Cha Ðậu trả lời:
"Tôi có nhiều sách in chữ Hán do các tiến sĩ ở Bắc Kinh, cũng như mấy cuốn
sách in bằng chữ An Nam nữa, mà nếu quan có đọc thì chắc sẽ không bắt tôi giam
tù như thế này".
Sau đó quan hỏi về quê quán và đời sống bên nước Tây Ban Nha
như có nhà cửa, tòa án không, người đàn bà có theo đạo như vậy không, v.v....
Ngày 12-4 cha lại bị đem ra trước tòa và quan án hỏi:
"Ông có dám đánh cây thánh giá không?"
- "Bẩm quan tòa, tôi là đạo trưởng đến đây để rao giảng
luật đạo đức chân thật của Chúa, bởi vậy tôi không khi nào chối đạo và đánh vào
ảnh tượng là một trọng tội. Luật mà tôi giảng dậy là chân thật và công bằng,
giúp người ta thoát bỏ con đường tội lỗi để trau dồi đức hạnh trong việc tôn
kính ba bậc cha".
- "Ba bậc cha là những ai?"
- "Trước hết là Thiên Chúa cao cả, Cha của mọi thần
thánh, rồi mỗi nước có vua và các quan, sau cùng là cha mẹ và các tổ tiên. Con
người đã nhận bao nhiêu ân huệ từ ba bậc cha này".
Cha Ðậu được đưa ra khỏi tòa và họ bắt đầu tra vấn Thầy
Ignatio Quí trong hai tiếng đồng hồ. Sau đó lại gọi Cha Ðậu trở lại và hỏi có
biết Thầy Hoi, Thầy Xa, Thầy Thiên, và Thầy Kiên không, đồng thời đe dọa là
không được nói dối. Cha Ðậu trả lời: - "Không biết. Tôi chỉ biết tên
Ignasio, Luca, Giovani và Giuse".
- "Quê quán của mấy người này ở đâu?"
- "Tôi không biết."
Họ liền bàn luận với nhau về phép Rửa Tội. Cha Ðậu liền nhân
cơ hội nói với họ đầy đủ về các bí tích: "Chúa chúng tôi là Ðức Giêsu Kitô
đã lập ra 7 nghi thức gọi là bí tích, phép Rửa Tội là một trong 7 bí tích đó. Ðức
Kitô đã truyền cho các môn đệ phải đi khắp thế giới để làm phép Rửa Tội và giảng
luật cứu rỗi".
- "Trong 13 năm qua ông ở những đâu?"
- "Tôi đi nhiều nơi khác nhau, chỉ có tỉnh Nam Ðịnh là
ít mà thôi".
- "Có phải là ban đêm đàn ông đàn bà ngủ chung với nhau
không?"
- "Ðây là một lời vu khống tầy trời nhắm làm hại người
Công Giáo chúng tôi".
- "Ông có phù phép gì mà làm cho người ta tin thế? Ông
có vợ không? Chịu vất vả như thế này ông được thưởng gì chứ?"
- "Tôi đã dâng hiến trọn đời cho Chúa và giảng dậy người
ta chỉ làm điều lành chứ không được làm những điều ám hại, và cuối cùng tôi chỉ
mong phần thưởng trên nước trời".
- "Ai đã dẫn ông tới Bắc Kỳ? Ông sống bằng cách
nào?"
- "Người Trung Hoa đã dẫn tôi vào. Tôi chỉ sống bằng của
bố thí của giáo dân. Trong thời giặc giã thì tôi ở Nam Chan".
Sau đó các quan soạn ra một bản án như sau: "Tuân theo
các lệnh của chúa, chúng hạ thần đã xem xét bản tâu trình của đại quan Lê
Phương, tổng đốc tỉnh Nam Ðịnh, và đô đốc Ðiều, người đã bắt và giao nộp tên đạo
trưởng Ðậu và một số đồ đạo. Chúng hạ thần ký nhận và chịu trách nhiệm rằng đạo
trưởng Ðậu, còn có tên là Mateo, từ năm Nhâm Tí 1732 cho đến nay đã sống tại
Giao Thủy và dậy dỗ dân chúng những điều chẳng nên và dụ hoặc những người dân
đơn sơ. Vì vậy quan Lê Phương và quan Ðiều đã sai Ðào Tất Ðạt truy lùng chỗ ở.
Sau khi dò thám ra nơi ở đã sai binh sĩ đến bắt giam và tịch thu đồ đạo. Họ đã
bắt giữ đạo trưởng Mateo và thầy Nguyễn Văn Quí cùng với sách luật và tượng ảnh.
Sau khi xem xét kỹ lưỡng các sự việc kể trên, chúng hạ thần quyết định rằng đạo
trưởng 'Hoa Lang' Mateo đáng tội chết và Nguyễn Văn Quí phải đầy chăn voi cho
vua và công việc nặng nhất sẽ dành cho y. Các đồ đạo thì phải thiêu hủy. Ðối với
quan Lê Phương và quan Ðiều vì đã có công với quốc gia sai lính bắt được đạo
trưởng nên sẽ trọng thưởng 70 nén bạc. Ðó là bản án chúng hạ thần đệ trình lên
chúa châu phê. Ấn ký ngày 20-3-1744 (Âm Lịch), năm thứ năm của Minh
Vương".
Tuy nhiên bản án trên đã không được thi hành, và vì có loạn
nên 6 tháng sau bản án được đổi sang lưu đồ chung thân. Bản án được châu phê,
nhưng ít ngày sau gặp thời kỳ hạn hán nên chúa Trịnh ra lệnh giảm các án, Thầy
Quí được trả tự do sau khi nộp một số tiền, còn Cha Ðậu thì bị tù chung thân.
Ngày 30-5-1744 cha được chuyển sang ngục Ðông, nơi Cha Tế đang bị giam giữ.
Cũng như Cha Tế, ngài thường ra nhà bà Gạo dùng cơm và được khá nhiều tự do.
Trong tù, cha ăn mỗi ngày một bữa, tiền còn lại đem cho người
nghèo, đồng thời cha còn dậy ba chú học tiếng Latinh, và giảng dậy cho những
người đến thăm cha, trong một căn nhà riêng cạnh nhà tù. Ngày lễ có tới 150 người
đến dự, có khi họ còn bí mật võng cha đi thăm kẻ liệt. Có lần cả hai cha được
đưa đến nói truyện với một quan trong triều về đạo và tặng quan một cuốn sách.
Khi Cha Tế được tin về án xử thì vui mừng, còn Cha Ðậu thì
buồn. Giáo dân làm bản kiến nghị để tù nhân kháng cáo lần cuối khi đi qua phủ
chúa Trịnh, Cha Ðậu cũng xin đi theo để chứng kiến việc hành quyết và đồng thời
đưa cho quan bản kiến nghị. Trong bản kiến nghị ngài hỏi tại sao bạn ngài bị
chém đầu còn ngài thì không, trong khi cả hai cùng là đạo trưởng, nếu chém đầu
thì phải chém cả hai, còn nếu tha một thì phải tha cả người kia, và cuối cùng
ngài yêu cầu được cùng chung một số phận với người bạn. Chúa Trịnh thấy hành động
táo bạo như vậy liền ra lệnh làm một bản án cho Cha Ðậu cùng bị chém. Bản án được
viết như sau: "Các quan do chúa Trịnh chỉ định, xét lại bản án do cấp dưới
đã trình lên như sau: Tên này trước kia đã bị kết án tử và bây giờ án được lập
lại. Vậy ngoại nhân thứ nhất Francis Gil (cha Tế) là một đạo trưởng đạo 'Hoa
Lang', tên ngoại nhân thứ hai Mateo (cha Ðậu) cũng là đạo trưởng đạo 'Hoa
Lang'. Tên sau này án được chuyển sang tù chung thân nhưng vừa được đổi thành xử
trảm. Ấn ký ngày 10-12 năm thứ năm Minh Vương. Quan án: Phương Hùng, Nghĩa Hậu,
Liêm Ngũ Lục, và Trung Hầu". Thế là hai cha cùng bị đem đi với 8 tên tội
phạm khác ra nơi xử.
Một nhân chứng tường thuật buổi hành quyết như sau: Hai cha
đi vào chỗ thứ ba và bốn, giữa 8 tên tội phạm khác, bị xích lại với nhau thành
một hàng. Trời mưa đổ xuống trên đầu trần các ngài, thỉnh thoảng các ngài giơ
tay lau nước mưa, nét mặt vẫn hân hoan. Tới nơi các ngài quì xuống cầu nguyện một
lát. Sau đó được đưa tới mô đất có trải chiếu sẵn, các ngài lại nằm phục xuống
một lúc rồi quì lên, nghiêng đầu chờ lệnh xử trảm. Giáo dân xin hai cha ban phép
lành. Các ngài xin họ đọc kinh Tin Kính và sau đó Cha Ðậu tính giảng lần cuối
cùng, nhưng một tên lính ngăn lại nói: "Chúa Trịnh kết án vì giảng đạo sai
lầm này sao ngươi còn muốn tiếp tục?"
Cha Ðậu liền nói: "Tôi đến Bắc Việt là để giảng đạo của
Chúa trời đất để mọi người dân cư trong nước này được biết Ngài là Chúa thật.
Tôi quyết tâm rao giảng vì biết rằng các vị ở đây chưa biết Chúa trời đất và
chưa phân biệt được điều lành điều xấu và không biết cái gì sẽ xảy ra cho đời
sau".
Một tên lính khác lại nhắc lại: "Vua gớm ghét đạo này,
sao còn cả gan nói nhảm nữa?"
Cha Ðậu lại nói: "Với cái chết vì đức tin, chúng tôi sẽ
được phần thưởng trên nước trời. Cái chết của chúng tôi làm chứng cho cả thế
gian về sự thật và sự thánh thiện của đạo Công Giáo trong ngày phán xét. Chính
vì vậy chúng tôi không sợ hãi gì cách chết này mà người ta dành cho chúng
tôi".
Vào lúc 4:00 giờ chiều ngày 22-1-1745, đầu của hai vị anh
hùng tử vì đạo rơi xuống. Một tên lính thét lên: "Rồi đây đói kém và thiên
tai sẽ đổ xuống trên chúng ta. Tại sao cứ phải giết các đạo trưởng không hề trộm
cắp giết người? Chúng ta đều biết rõ họ là đấng thánh".
Lòng tôn kính các đấng anh hùng tử đạo đã lôi kéo nhiều người
đến mộ các ngài để cầu nguyện và xin ơn. Khi về họ còn mang theo nắm đất để
kính nhớ các ngài. Cả những người lương cũng đến cầu nguyện nữa.
Một người tên là Giuse Can đã thề là kể chuyện có thật sau
đây: "Thầy già Khiêm đã kể cho tôi nghe chuyện tên lý hình Chân Nhuệ, đã bắt
Cha Ðậu trước đây, bị đau ốm lâu dài. Sau khi nghe biết Cha Ðậu đã chết vì đạo
thánh thì ông ta hối cải cầu xin với Cha Ðậu phù hộ, ông ta được khỏi bệnh cách
lạ lùng. Ông ta đã từ bỏ thần phật để theo đạo do Cha Ðậu rao giảng".
Một trường hợp khác được kể lại là người giữ chùa bị đau nặng
dù đã cầu đảo các thần phật và chạy chữa thuốc men nhưng vẫn không khỏi. Một
người Công Giáo đến thăm, lặng lẽ nhúng miếng vải đã được thấm máu đào của Cha
Ðậu vào ly nước rồi cho bệnh nhân uống mà không nói gì cả. Bệnh nhân vừa uống hết
ly nước thì cảm thấy khỏe mạnh. Ông từ giữ chùa sau đó mới được biết liền xin
trở lại đạo.
(ST)
Trường thi tử Đạo.
Matthêu Ðậu nêu gương anh dũng
Trước gian nguy Cha cũng hiên ngang
Thừa sai giảng đạo vững vàng
Xa rời Cố Quốc lên đàng truyền rao
Ơn Thiên Triệu biết bao cao quý
Ví đạo Trời quyết chí hy sinh
Ðầu tiên Ngài ở Trung Linh
Việt Nam Bắc Việt Triều đình lùng săn
Trong năm tháng học chăm tiếng Việt
Cha thông minh hiểu biết lẹ mau
Ðặt tên Ðậu bước khởi đầu
Giáo dân dễ nhớ mặc dầu người Tây
Cha đi lại đó đây đường bộ
Cũng có khi giả bộ thuyền chài
Tông đồ rao giảng công khai
Những nơi nguy hiểm nhưng Ngài vẫn đi
Mở nước Chúa sợ chi cản trở
Nếu bắt ta cũng ở ý Trời
Mười năm Cha trốn khắp nơi
Bao lần thoát hiểm Ngài thời vững tin
Người Kẻ Bái đắm chìm chối đạo
Tên Chính Nam họ báo cho Cha
Ngài liền tìm đến tận nhà
Gặp ông khuyên nhủ thật là khôn ngoan
Tại đất Bắc lan tràn dịch tễ
Cha chăm lo bất kể giáo lương
Giầu lòng bác ái phi thường
Ngày đêm đi khắp nẻo đường cứu dân
Một giáo hữu bất thần xớn xác
Lên tâu quan tố giác nơi Cha
Khi đang dâng lễ tại nhà
Lính quan ùa đến bắt Cha túm đầu
Ðạp vào hông nghe đau té xuống
Lột áo Ngài đụng nhuốm máu đầu
Áp giải đi suốt đêm thâu
Ðưa về Hà Nội ngõ hầu tống giam
Ðến ngày xử Ngài van lãnh án
Cùng Cha Tế người bạn đồng hành
Chúa Trịnh ký án rất nhanh
Hai Cha bị trảm ngoại thành Thăng Long
Trời mưa xuống thấm trong vết máu
Giơ tay lau đau thấu ruột gan
Hai Cha vui vẻ hân hoan
Giáo dân kéo tới xin ban phép lành
Một tên lính đứng canh nói vội
Vua rất ghét phách lối cả gan
Ðạo gì lừa gạt nhân gian
Chém đầu đứt cổ Thiên đàng ở đâu
Cha Ðậu nói phép mầu Chúa xuống
Cứu linh hồn lên chốn Thiên đàng
Xác thân tro bụi tiêu tan
Vua quan cũng vậy suy tàn diệt vong
Lý hình Nhuệ thật lòng sám hối
Cầu xin Cha tha lỗi cho con
Lạ lùng bệnh hết không còn
Thành tâm sám hối lãnh tròn ơn thiêng
Matthêu Ðậu năm sinh Nhâm Ngọ (1702)
Tại Navarey nước họ (Tây) Ban Nha
Ất Sửu (1745) tử đạo xứ ta
Bính Ngọ (1906) phong thánh danh Cha sáng ngời
Lời bất hủ: Quan trấn Sơn Nam lúc đó là Lê Văn Phượng hỏi
cha Matthêu Ðậu rằng: "Ông có biết lệnh vua cấm giảng đạo không?" Cha
đáp: "Chính vì cấm, tôi mới phải ẩn trốn chứ". Quan liền thảo bản án
trảm quyết Cha Ðậu.
No comments:
Post a Comment